Năm 2024, Thầy Thích Minh Tuệ trở nên nổi tiếng ở Việt Nam và cả
thế giới, với các hành trình xuyên Việt theo lối khất thực thực hành 13 hạnh
đầu đà của Phật
giáo Nguyên thủy. Người ta thán phục ông, khi thấy ông đi chân đất, mặc cho
nắng mưa, khoác trên mình chiếc áo vá víu từ những mảnh vải vụng, góp nhặt từ
các đống phế thải. Ông không sống trong chùa, mà sống ngoài trời; ông ngủ qua
đêm ở nghĩa địa, hay ở nơi nào mà người ta không ngăn cấm. Ông không giảng đạo,
không thâu nhập đệ tử: ông tu cho chính
ông.
Những người tu Phật như ông không nhiều,
nên ít ai biết đến; nhất là ở Việt Nam, số người tu theo Phật giáo Nam tông không có bao nhiêu.
Nhưng ở Sri Lanka thì khác: hơn 70% dân số theo đạo Phật Nguyên thủy.
Mời bạn xem 1 video về Sri Lanka và Lược sử Phật giáo tại Sri Lanka để biết thêm về Sri Lanka và lịch sử Phật giáo tại xứ sở này. Sri Lanka còn có thành
phố Colombo, lớn nhất quốc đảo, cũng chính là
tên dính liền với chương trình học bổng Colombo của chúng ta.
Sri Lanka nằm trong vùng nhiệt đới, gần đường xích đạo hơn mũi
Cà Mau. Cuối tháng 4, thời tiết khô hạn và nóng bức đến nỗi nhựa đường chảy mềm
dưới chân người đi bộ chân trần! Vậy mà một đoạn tăng lữ gồm
12 người dẫn nhau đi, suốt
cả tuần, trên con đường dài 225 km, nhằm mục đích vun bồi hòa bình, lòng từ bi, tâm chánh niệm, đồng thời quảng bá di
sản Phật giáo. Tỳ-khưu (hay Tỳ-kheo, tiếng Phạn: bhikṣu, tiếng Pali:
bhikkhu) Tuệ Nhân (tiếng Pali: Pannakara) là người dẫn đầu đoàn, với sự cố vấn
của Hòa Thượng Bửu Đức. Người địa phương vốn dĩ tôn kính tăng, nên họ đón chờ đoàn
dọc theo đường đi, cung kính quỳ lạy, dâng hoa. Thương cho tăng phải đi trên
con đường quá nóng, họ rưới nước trên đường đi; thậm chí còn lót thêm lá chuối để làm mát chân tăng.
Một hình ảnh làm nhiều người phải chạnh lòng là hình chú chó Aloka
(nghĩa là Ánh Sáng), đồng
hành với đoàn tăng lữ, không những trong suốt chuyến đi Sri Lanka mà ngay cả
trong các cuộc đi bộ khác nữa!Đặc biệt là chú cũng đi máy bay,
trong khoang hành khách, trang trọng như 1 con người.
Chuyến đi này có tên A
Global Walk For Peace in The Island For Peace Sri Lanka với nhiều chi tiết thú
vị, nhưng ít người biết đến vì không được phổ biến trên truyền thông. Mời bạn xem Walk
For Peace In Sri Lanka Photo Album. Đây là 1 sưu tập hình ảnh và chú thích
do Cư Sĩ Chơn Tâm (Citta) dày công biên soạn. Xin hé lộ với các bạn rằng vị cư sĩ này là người bạn đồng khóa với chúng ta:anh Lương Châu Phước.
Một cuộc đi bộ
vì hòa
bình khác, rầm rộ và có nhiều tiếng vang hơn, nhờ tin tức quảng bá trên truyền
thông Hoa Kỳ: The Saffron Pilgrimage: A 2300 -Mile Walk For Peace. Chuyến đi này
xuất phát từ chùa Hương Đạo, Fort Worth, Texas, ngày 26 tháng 10 năm 2025 và kết
thúc tại Washington, DC, ngày 11 tháng 2 năm 2026.
Lần này đoàn
tăng lữ gồm 19 vị tăng sĩ thuộc Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), do Sư Tuệ
Nhân, chùa Hương Đạo, dẫn đầu. Đây là lần đầu người Mỹ biết đến cuộc đi bộ đầy
gian khổ, không vì lợi ích cá nhân, mà vì muốn lấy sự nhọc nhằn của thân xác để
đổi lấy lời kêu gọi loài người hãy sống trong hòa bình. Trên đường đi không chỉ
có Phật tử đón chào, mà còn có những người không cùng tôn giáo, chào mừng, ủng
hộ, hoan nghênh.
Thời tiết ở Bắc
Mỹ khác với thời tiết ở Sri Lanka rất nhiều, nhất là trong những ngày mùa đông.
Vì vậy, các vị tăng sĩ không thể đi chân trần và không thể chỉ mặc Y
Tăng-già-chi (tiếng Pali: Saṅghāṭi).
Con đường dài
3700 km đã để lại những dấu ấn nghiệt ngã khó quên: chú chó Aloka kiệt sức phải
được đem lên xe, nhờ người trợ cứu; Sư Dam Phommasan (người Lào) bị 1 xe tải trợt
tay lái, đâm vào, gần thành phố Dayton, Texas. Sư Dam được giải phẩu tại 1 bệnh
viện ở Houston, Texas, mất đi 1 phần của chân trái, ngồi xe lăn và phải tạm dừng
cuộc đi bộ. Sau khi bình phục, chú chó Aloka lại tiếp tục xuống đường đồng hành
với đoàn.
Đoàn đi bộ được
đón mừng với những vị lãnh đạo không cùng tôn giáo, với các chức sắc trong chính phủ tiểu bang, với các người cảnh sát gìn giữ an ninh, và với người dân địa phương.
Mời bạn xem bộ
sưu tập hình ảnh của chuyến đi bộ vô tiền khoáng hậu 108
Ngày Đi Bộ Vì Hòa Bình do Cư Sĩ Chơn Tâm biên soạn, và video về những lời phát biểu của đoàn đi bộ trước khi kết thúc chương trình Walk
for Peace năm 2026.
Bích-Khuê sưu tầm (Bài viết này của Trương Văn Khoađã đăng trên Tạp Chí Non Nước do Liên Hiệp các Hội Văn
Học Nghệ Thuật Thành phố Đà Nẵng phát hành ngày 17/8/2012)
Sài Gòn có một quán café “Hoa vàng”, trước kia còn gọi là “Động
hoa vàng”. Quán nằm ở Ngã Tư Bảy Hiền trang nhã, tĩnh mịch và rất nên thơ.
Khách thường là những người đứng tuổi. Ai vào, nếu dể ý một tí sẽ thấy một “lão
nông” ngồi lặng lẽ ở góc nhà. Đó chính là thi sĩ Phạm Thiên Thư, tác giả của
những bài thơ nổi tiếng được Phạm Duy phổ thành những tình khúc bất hủ.
Mỗi khi căn phòng vang lên giai điệu mượt mà “Em tan trường về,
đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…”, ông lại nhắm mắt, ngồi bất động như một
vị thiền sư, thả hồn về những dĩ vãng xa xưa… Ngày ấy, trên con đường trải nắng
vàng, cậu học trò lặng lẽ theo sau cô gái tên Ngọ đi học về, nàng mặc áo dài
trắng, tay ôm cặp, mái tóc xoã ngang vai… Chàng si tình, để lại những vần thơ
xót xa và lung linh mãi đến sau này…
“…Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dấu lau lách buồn…
…Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở…”
Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa
Hoàng Thị…” là một tuyệt tác. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc, tác phẩm đã trở thành
một hiện tượng tại miền Nam. Thanh Thúy là ca sĩ đầu tiên thể hiện thành công
bài hát này. Lúc bấy giờ, trên các báo phát hành ở Sài Gòn, người ta thường
nghi vấn và đặt dấu hỏi, nhân vật chính trong “Ngày xưa Hoàng Thị” là ai? Một
vài người tự nhận là mình, số khác lại bình thơ rồi cho rằng nhân vật chính
trong thơ là cô A hoặc cô B nào đó… Đến khi các phóng viên gặp Phạm Thiên Thư
hỏi chuyện, ông nói rằng, người đẹp trong ca khúc là cô Hoàng Thị Ngọ, nhưng
không hiểu tại sao nhiều người thời bấy giờ vẫn không tin ?
Quê ông ở Kiến Xương, Thái Bình nhưng lại sinh ra ở Lạc Viên,
Hải Phòng. Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam, cư
ngụ tại khu Tân Định, Sài Gòn. Đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định
cách trường Trung học Văn Lang, nơi ông học, gần một cây số. Học xong Tú tài,
Phạm Thiên Thư theo học trường Phật học Vạn Hạnh, chọn cửa Phật làm chốn dừng
chân và gửi hồn vào cõi Thiền..
Nhà thơ Phạm Thiên Thư, người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất
hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như
Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,.. Thơ Phạm
Thiên Thư nửa đời, nửa đạo, tâm linh khác thường, làm cho độc giả lãng đãng và
ngẩn ngơ:
“…Em làm trang tôn kinh
Anh làm nhà sư buồn
Đêm đêm buồn tụng đọc
Lòng chợt nhớ vương
vương
Đợi nhau từ mấy thuở
Tìm nhau cõi vô thường
Anh hóa thân làm
mực
Cho vừa giấy yêu
đương…”
(Pháp Thân)
Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những
cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Bài thơ “Ngày
xưa Hoàng Thị…” ra đời trong lúc ông mới chập chững bước vào làng thơ nên nhiều
người nghĩ đó là bài thơ đầu tay. Thật ra, bài thơ đầu tiên chính là bài “Vết
chim bay”, lúc ông mới 24 tuổi, còn nương náu ở cửa chùa.
Ngày ấy, có một nữ sinh thường vào sân chùa tìm nơi tĩnh lặng để
học bài. Cô đẹp và thánh thiện như ánh sáng của Quan Thế Âm Bồ Tát, Phạm Thiên
Thư đem lòng thương mến. Hai người quen nhau độ mươi ngày, một buổi chiều như
bao buổi chiều khác, ông ngồi ở hiên chùa đợi mãi nhưng chẳng thấy bóng dáng
cô. Nàng ra đi chẳng một lời từ biệt để lại sự đơn côi và nuối tiếc cho chàng
trai mới lớn. Mười năm sau, khi trở lại chùa xưa, tình cờ nhìn thấy nét phấn
trắng ghi tên hai đứa vẫn còn trên gác chuông, lòng bâng khuâng chuyện cũ, Phạm
Thiên Thư đã viết nên bài thơ này:
“Ngày xưa anh đón em.
Nơi gác chuông chùa
nọ.
Con chim nào qua đó.
Còn để dấu chân in…
Anh một mình gọi nhỏ.
Chim ơi biết đâu tìm…”
Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư thánh thiện, nhẹ nhàng và kín
đáo. Chút bẽn lẽn, khẽ chạm mà không dám “tay trong tay” vì sợ tình sẽ tan biến
thành khói sương. Đạo Phật ảnh hưởng và tạo nên một không gian ái tình riêng
trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó làm cho người đời ngỡ ngàng, đắm say trong thế
giới thi ca huyền diệu của thi sĩ.
Theo ông, Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” chỉ
là kỷ niệm, một mối tình thoảng nhẹ vu vơ thời trai trẻ. Trong những năm Tú tài
, ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ, cô gái đó quê gốc
Hải Dương và ở gần nhà ông. Sau này, Phạm Thiên Thư tìm lại cố nhân nhưng người
hàng xóm cho biết, bà Ngọ đã bán nhà và dọn đi nơi khác từ lâu.
Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên
nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn.
Khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là kẻ lẽo đẽo theo
sau: “Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng... Trong
bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những
cảm xúc bâng khuâng khó tả... Cứ thế, tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy
hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết”. Và một
lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ “Ngày xưa Hoàng
Thị”.
Những năm sau này, mỗi khi đi ngang lại con đường của một thuở
yêu đương, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông:
“Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ.
Chim non giấu mỏ.
Dưới cội hoa vàng...”
Giờ đây, Hoàng Thị Ngọ đã định cư ở Mỹ… Hơn 50 năm, nơi phương
trời xa xôi, cô nữ sinh ngày ấy có còn nhớ…
“…Tìm
xưa quẩn quanh
Ai
mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!”
Một lần, có người hỏi ông “Thế khi nào mọi người mới biết tới
những bài thơ của bác?” Phạm Thiên Thư trả lời: “Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc
sĩ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài Đạo ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và tình cờ đọc
được tập thơ của tôi. Tôi cũng không nghĩ Phạm Duy lại thích bài thơ Ngày xưa
Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ nhiên được một nhạc sĩ
nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng. Và
tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sĩ đã tôn bài
thơ lên rất nhiều qua những giai điệu nhạc bay bổng”.
Cha Phạm Thiên Thư tuy làm nghề bốc thuốc Bắc nhưng thỉnh thoảng
vẫn làm thơ. Ông còn nhớ, cha ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở
Hà Nội tổ chức. Phạm Thiên Thư làm thơ để trải lòng mình chứ không làm thơ
chuyên nghiệp. Vì vậy mãi đến năm 1968, ông mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên,
chủ yếu để tự đọc, tặng một số bạn bè thân. Thật ra, trong cuộc đời sáng tác,
Phạm Thiên Thư chẳng muốn ai biết về mình.
Năm 1964, nhà thơ Phạm Thiên Thư xuống tóc, đi tu ở một ngôi
chùa với Pháp danh là Thích Tuệ Không.. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973),
ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chàng 16
tuổi và nàng cũng ngần tuổi đấy. Tình yêu vừa chớm như những bông hoa nở sớm
sau sân chùa. Cứ mỗi lần, chú tiểu đánh chuông, cô bé đứng bên nhìn và tụng
niệm. Trong những lời khấn nhỏ ấy, cô nguyện cầu cho 2 đứa được bên nhau mãi
mãi…
Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn
hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp
Mùa xuân quen nhau, mùa hạ cùng em đi lễ… Rồi mùa thu, mùa đông,
hai người vẫn yêu thương tha thiết, bốn mùa hẹn nhau trong ngôi chùa cổ, có lò
hương với làn trầm nghi ngút:
Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ
ửng chín
Lò hương có làn
trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn
rịn
Chiến tranh loạn lạc, cuối mùa đông năm ấy, cô bé chết trong lúc
chạy trốn những cuộc hành quân. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước
mắt đưa tiễn người yêu trong chiếc áo quan đơn sơ và mộc mạc như chính tình yêu
của họ:
Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa
bụi bay
Hắt hiu trong cành
gió bấc
Vườn chùa rụng cánh
lan gầy
Cuối đông đưa em
tới đây
Trong lòng áo quan
gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn
mây
Cội hoa tưởng ai
trầm lặng
Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi những bông hoa vẫn còn
nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi
hoàng hôn buông xuống…
Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương
bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên giòng suối
xanh
Nước ơi sao buồn nức nở
Mỗi cuộc tình đều có những kết thúc khác nhau. Có người đến đỉnh
cao của hạnh phúc, tràn ngập niềm hân hoan vô bờ bến. Có kẻ rơi xuống vực sâu
của bất hạnh, ôm lấy đơn côi trong im lặng và nước mắt. Cho dù âm dương cách
biệt ngàn trùng, tình yêu ấy vẫn tươi đẹp, sáng lung linh và huyền diệu. Cõi
người vẫn tin rằng, họ vẫn yêu thương nhau, con tim vẫn thổn thức một lời hò
hẹn từ kiếp trước. Và như thế, trong ánh sáng huyền diệu của Phật Pháp, họ
không còn bên nhau nữa nhưng tình yêu vẫn lóng lánh như những giọt sương còn
đọng lại trên những bông hoa nở sớm sau sân chùa.
Câu chuyện hoàn toàn có thật, Phạm Thiên Thư xúc động và sáng
tác bài thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này, Phạm Duy phổ thành nhạc
phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ. Sau này,
Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của ông như: Đưa em tìm
động hoa vàng, Gọi em là đoá tình sầu…Tất cả những ca khúc này đều nổi tiếng và
được mọi người biết đến.
Sau 1975, Phạm Thiên Thư lui về ở ẩn. Từ năm
1976 đến 1981, để mưu sinh, Phạm thi sĩ mở quán hớt tóc ở Lăng Cha Cả. Giai
đoạn (1981 - 1983), ông bán tạp hoá, rượu thuốc, trà đá... ở đường Lý Chính
Thắng. Sau 1983, Phạm Thiên Thư nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn
dưỡng sinh PHATHATA (Pháp - Thân - Tâm). Sau đó, ông được bác sĩ, nghệ sĩ
Trương Thìn, Viện trưởng Viện Y học dân tộc mời về cộng tác với Viện. Trong
suốt thời gian này, Phạm Thiên Thư thỉnh thoảng cho đăng báo những bài thơ
ngắn. Đôi lần, giới văn nghệ sĩ lại gặp ông đến dự họp ở Hội Nhà văn TP.HCM.
Thời gian sau này, Phạm Thiên Thư thực sự trở lại và hoà nhập với văn đàn khi
trường ca "Đoạn Trường Vô Thanh" của ông được tái bản một cách trang
trọng.
Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới
lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Mùa xuân năm Nhâm Thìn
(2012), Phạm Thiên Thư đã giao lưu với khán giả Đà Nẵng trong chương
trình thơ - nhạc mang tên “Động Hoa Vàng” tại Nhà hát Trưng Vương.
Với sự dàn dựng công phu và góp mặt của nhiều ca sĩ trẻ, cuộc đời, thi ca và âm
nhạc của người tu sĩ lãng mạn này lại tái hiện một lần nữa trong lòng người hâm
mộ.
Mời bạn đọc thêm nhiều bài khác về thi sĩ Phạm Thiên Thư tại đây.
Người góp nhặt cũng xin riêng tặng những người thích
tranh sơn mài, bài cuộc đời và vài tác phẩm của danh hoạ Nguyễn Gia
Trí sau đây.
Nguyễn Gia Trí
·Vàng trong tranh, vàng trong tim
·Tôi sáng tác bằng tâm
linh
·Bí quyết của nghệ thuật là không cố ý làm gì cả.
Để cái mờ, giữ cái bóng. Sơn dầu khác với sơn mài là không có cái bóng. NGT
Nguyễn Gia Trí (1908 - 1993) là một hoạ sĩ, nhà đồ hoạ, biếm hoạ Việt Nam. Ông cùng với Tô
Ngọc Vân, Nguyễn
Tường Lân, Trần
Văn Cẩn là bốn cây đại thụ
của nền mỹ thuật hiện đại của Việt
Nam (nhất Trí, nhì Vân, tam
Lân, tứ Cẩn).
Cái đẹp
trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời
Tôi
nghĩ rằng một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy nên tôi tin rằng
chỉ những người giàu tình cảm mới có thể trở thành họa sĩ tài hoa. TNV
Tô Ngọc Vân (1906 – 1954) là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả của một số bức tranh sơn dầu tiêu biểu cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông còn có một số bút danh như Tô Tử, Ái Mỹ, TNV. Ông là một trong bốn cây đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn). Các danh họa, mỗi người một số phận, một tâm thế và cách thế dấn thân riêng, nhưng tựu trung lại, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách nghệ sĩ của mình.
Nguyễn Tường Lân (1906-1946) là một trong bộ tứ họa sĩ nổi
tiếng thời kỳ đầu của nền mỹ thuật Việt Nam: "Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân,
tứ Cẩn". Thế hệ những họa sĩ đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông
Dương từ năm 1924. Các danh họa trong tứ trụ nầy,
mỗi người một số phận, một tâm thế và cách thế dấn thân riêng, nhưng tựu trung
lại, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách nghệ sĩ của
mình.