marque

Mừng gặp bạn trong ngày hội ngộ 3 tháng 8 2024. Hẹn bạn trong ngày hội ngộ lần sau.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

Hành trình đi bộ vì Hòa Bình

Năm 2024, Thầy Thích Minh Tuệ trở nên nổi tiếng ở Việt Nam và cả thế giới, với các hành trình xuyên Việt theo lối khất thực thực hành 13 hạnh đầu đà của Phật giáo Nguyên thủy. Người ta thán phục ông, khi thấy ông đi chân đất, mặc cho nắng mưa, khoác trên mình chiếc áo vá víu từ những mảnh vải vụng, góp nhặt từ các đống phế thải. Ông không sống trong chùa, mà sống ngoài trời; ông ngủ qua đêm ở nghĩa địa, hay ở nơi nào mà người ta không ngăn cấm. Ông không giảng đạo, không thâu nhập đệ tử: ông tu cho chính ông.

Những người tu Phật như ông không nhiều, nên ít ai biết đến; nhất là ở Việt Nam, số người tu theo Phật giáo Nam tông không có bao nhiêu. Nhưng ở Sri Lanka thì khác: hơn 70% dân số theo đạo Phật Nguyên thủy.  Mời bạn xem 1 video về Sri Lanka và Lược sử Phật giáo tại Sri Lanka để biết thêm về Sri Lanka và lịch sử Phật giáo tại xứ sở này. Sri Lanka còn có thành phố Colombo, lớn nhất quốc đảo, cũng chính là tên dính liền với chương trình học bổng Colombo của chúng ta.

Sri Lanka nằm trong vùng nhiệt đới, gần đường xích đạo hơn mũi Cà Mau. Cuối tháng 4, thời tiết khô hạn và nóng bức đến nỗi nhựa đường chảy mềm dưới chân người đi bộ chân trần! Vậy mà một đoạn tăng lữ gồm 12 người dẫn nhau đi, suốt cả tuần, trên con đường dài 225 km, nhằm mục đích vun bồi hòa bình, lòng từ bi, tâm chánh niệm, đồng thời quảng bá di sản Phật giáo. Tỳ-khưu (hay Tỳ-kheo, tiếng Phạn: bhikṣu, tiếng Pali: bhikkhu) Tuệ Nhân (tiếng Pali: Pannakara) là người dẫn đầu đoàn, với sự cố vấn của Hòa Thượng Bửu Đức. Người địa phương vốn dĩ tôn kính tăng, nên họ đón chờ đoàn dọc theo đường đi, cung kính quỳ lạy, dâng hoa. Thương cho tăng phải đi trên con đường quá nóng, họ rưới nước trên đường đi; thậm chí còn lót thêm lá chuối để làm mát chân tăng. 

Một hình ảnh làm nhiều người phải chạnh lòng là hình chú chó Aloka (nghĩa là Ánh Sáng), đồng hành với đoàn tăng lữ, không những trong suốt chuyến đi Sri Lanka mà ngay cả trong các cuộc đi bộ khác nữa! Đặc biệt là chú cũng đi máy bay, trong khoang hành khách, trang trọng như 1 con người.


Chuyến đi này có tên A Global Walk For Peace in The Island For Peace Sri Lanka với nhiều chi tiết thú vị, nhưng ít người biết đến vì không được phổ biến trên truyền thông. Mời bạn xem Walk For Peace In Sri Lanka Photo Album. Đây là 1 sưu tập hình ảnh và chú thích do Cư Sĩ Chơn Tâm (Citta) dày công biên soạn. Xin hé lộ với các bạn rằng vị cư  sĩ này là người bạn đồng khóa với chúng ta: anh Lương Châu Phước.



Một cuộc đi bộ vì  hòa  bình khác, rầm rộ và có nhiều  tiếng vang hơn, nhờ tin tức quảng bá trên truyền thông Hoa Kỳ: The Saffron Pilgrimage: A 2300 -Mile Walk For Peace. Chuyến đi này xuất phát từ chùa Hương Đạo, Fort Worth, Texas, ngày 26 tháng 10 năm 2025 và kết thúc tại Washington, DC, ngày 11 tháng 2 năm 2026.



Lần này đoàn tăng lữ gồm 19 vị tăng sĩ thuộc Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), do Sư Tuệ Nhân, chùa Hương Đạo, dẫn đầu. Đây là lần đầu người Mỹ biết đến cuộc đi bộ đầy gian khổ, không vì lợi ích cá nhân, mà vì muốn lấy sự nhọc nhằn của thân xác để đổi lấy lời kêu gọi loài người hãy sống trong hòa bình. Trên đường đi không chỉ có Phật tử đón chào, mà còn có những người không cùng tôn giáo, chào mừng, ủng hộ, hoan nghênh.



Thời tiết ở Bắc Mỹ khác với thời tiết ở Sri Lanka rất nhiều, nhất là trong những ngày mùa đông. Vì vậy, các vị tăng sĩ không thể đi chân trần và không thể chỉ mặc Y Tăng-già-chi (tiếng Pali: Saṅghāṭi).


Con đường dài 3700 km đã để lại những dấu ấn nghiệt ngã khó quên: chú chó Aloka kiệt sức phải được đem lên xe, nhờ người trợ cứu; Sư Dam Phommasan (người Lào) bị 1 xe tải trợt tay lái, đâm vào, gần thành phố Dayton, Texas. Sư Dam được giải phẩu tại 1 bệnh viện ở Houston, Texas, mất đi 1 phần của chân trái, ngồi xe lăn và phải tạm dừng cuộc đi bộ. Sau khi bình phục, chú chó Aloka lại tiếp tục xuống đường đồng hành với đoàn.

Đoàn đi bộ được đón mừng với những vị lãnh đạo không cùng tôn giáo, với các chức sắc trong chính phủ tiểu bang, với các người cảnh sát gìn giữ an ninh, và với người dân địa phương.

Mời bạn xem bộ sưu tập hình ảnh của chuyến đi bộ vô tiền khoáng hậu 108 Ngày Đi Bộ Vì Hòa Bình do Cư Sĩ Chơn Tâm biên soạn, và video về những lời phát biểu của đoàn đi bộ trước khi kết thúc chương trình Walk for Peace năm 2026.


Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

Phạm Thiên Thư - Người tu sĩ lãng mạn

Bích-Khuê sưu tầm

(Bài viết này của Trương Văn Khoa đã đăng trên Tạp Chí Non Nước do Liên Hiệp các Hội Văn Học Nghệ Thuật Thành phố Đà Nẵng phát hành ngày 17/8/2012)


Sài Gòn có một quán café “Hoa vàng”, trước kia còn gọi là “Động hoa vàng”. Quán nằm ở Ngã Tư Bảy Hiền trang nhã, tĩnh mịch và rất nên thơ. Khách thường là những người đứng tuổi. Ai vào, nếu dể ý một tí sẽ thấy một “lão nông” ngồi lặng lẽ ở góc nhà. Đó chính là thi sĩ Phạm Thiên Thư, tác giả của những bài thơ nổi tiếng được Phạm Duy phổ thành những tình khúc bất hủ.

Mỗi khi căn phòng vang lên giai điệu mượt mà “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…”, ông lại nhắm mắt, ngồi bất động như một vị thiền sư, thả hồn về những dĩ vãng xa xưa… Ngày ấy, trên con đường trải nắng vàng, cậu học trò lặng lẽ theo sau cô gái tên Ngọ đi học về, nàng mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, mái tóc xoã ngang vai… Chàng si tình, để lại những vần thơ xót xa và lung linh mãi đến sau này…

“…Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dấu lau lách buồn…
…Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở…”

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị…” là một tuyệt tác. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc, tác phẩm đã trở thành một hiện tượng tại miền Nam. Thanh Thúy là ca sĩ đầu tiên thể hiện thành công bài hát này. Lúc bấy giờ, trên các báo phát hành ở Sài Gòn, người ta thường nghi vấn và đặt dấu hỏi, nhân vật chính trong “Ngày xưa Hoàng Thị” là ai? Một vài người tự nhận là mình, số khác lại bình thơ rồi cho rằng nhân vật chính trong thơ là cô A hoặc cô B nào đó… Đến khi các phóng viên gặp Phạm Thiên Thư hỏi chuyện, ông nói rằng, người đẹp trong ca khúc là cô Hoàng Thị Ngọ, nhưng không hiểu tại sao nhiều người thời bấy giờ vẫn không tin ?

Quê ông ở Kiến Xương, Thái Bình nhưng lại sinh ra ở Lạc Viên, Hải Phòng. Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam, cư ngụ tại khu Tân Định, Sài Gòn. Đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định cách trường Trung học Văn Lang, nơi ông học, gần một cây số. Học xong Tú tài, Phạm Thiên Thư theo học trường Phật học Vạn Hạnh, chọn cửa Phật làm chốn dừng chân và gửi hồn vào cõi Thiền..

Nhà thơ Phạm Thiên Thư, người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,.. Thơ Phạm Thiên Thư nửa đời, nửa đạo, tâm linh khác thường, làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ:

“…Em làm trang tôn kinh
 Anh làm nhà sư buồn
Đêm đêm buồn tụng đọc
Lòng chợt nhớ vương vương
Đợi nhau từ mấy thuở
Tìm nhau cõi vô thường
Anh hóa thân làm mực
Cho vừa giấy yêu đương…”
(Pháp Thân)

Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị…” ra đời trong lúc ông mới chập chững bước vào làng thơ nên nhiều người nghĩ đó là bài thơ đầu tay. Thật ra, bài thơ đầu tiên chính là bài “Vết chim bay”, lúc ông mới 24 tuổi, còn nương náu ở cửa chùa.

Ngày ấy, có một nữ sinh thường vào sân chùa tìm nơi tĩnh lặng để học bài. Cô đẹp và thánh thiện như ánh sáng của Quan Thế Âm Bồ Tát, Phạm Thiên Thư đem lòng thương mến. Hai người quen nhau độ mươi ngày, một buổi chiều như bao buổi chiều khác, ông ngồi ở hiên chùa đợi mãi nhưng chẳng thấy bóng dáng cô. Nàng ra đi chẳng một lời từ biệt để lại sự đơn côi và nuối tiếc cho chàng trai mới lớn. Mười năm sau, khi trở lại chùa xưa, tình cờ nhìn thấy nét phấn trắng ghi tên hai đứa vẫn còn trên gác chuông, lòng bâng khuâng chuyện cũ, Phạm Thiên Thư đã viết nên bài thơ này:

“Ngày xưa anh đón em.
 Nơi gác chuông chùa nọ.
Con chim nào qua đó.
 Còn để dấu chân in…
Anh một mình gọi nhỏ.
Chim ơi biết đâu tìm…”

Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư thánh thiện, nhẹ nhàng và kín đáo. Chút bẽn lẽn, khẽ chạm mà không dám “tay trong tay” vì sợ tình sẽ tan biến thành khói sương. Đạo Phật ảnh hưởng và tạo nên một không gian ái tình riêng trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó làm cho người đời ngỡ ngàng, đắm say trong thế giới thi ca huyền diệu của thi sĩ.

Theo ông, Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” chỉ là kỷ niệm, một mối tình thoảng nhẹ vu vơ thời trai trẻ. Trong những năm Tú tài , ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ, cô gái đó quê gốc Hải Dương và ở gần nhà ông. Sau này, Phạm Thiên Thư tìm lại cố nhân nhưng người hàng xóm cho biết, bà Ngọ đã bán nhà và dọn đi nơi khác từ lâu.

Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn. Khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là kẻ lẽo đẽo theo sau: “Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng... Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả... Cứ thế, tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết”. Và một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị”.

Những năm sau này, mỗi khi đi ngang lại con đường của một thuở yêu đương, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông:

“Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ.
Chim non giấu mỏ.
Dưới cội hoa vàng...”

Giờ đây, Hoàng Thị Ngọ đã định cư ở Mỹ… Hơn 50 năm, nơi phương trời xa xôi, cô nữ sinh ngày ấy có còn nhớ…

“…Tìm xưa quẩn quanh
 Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!”

Một lần, có người hỏi ông “Thế khi nào mọi người mới biết tới những bài thơ của bác?” Phạm Thiên Thư trả lời: “Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài Đạo ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và tình cờ đọc được tập thơ của tôi. Tôi cũng không nghĩ Phạm Duy lại thích bài thơ Ngày xưa Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ nhiên được một nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng. Và tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sĩ đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua những giai điệu nhạc bay bổng”.

Cha Phạm Thiên Thư tuy làm nghề bốc thuốc Bắc nhưng thỉnh thoảng vẫn làm thơ. Ông còn nhớ, cha ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội tổ chức. Phạm Thiên Thư làm thơ để trải lòng mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp. Vì vậy mãi đến năm 1968, ông mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên, chủ yếu để tự đọc, tặng một số bạn bè thân. Thật ra, trong cuộc đời sáng tác, Phạm Thiên Thư chẳng muốn ai biết về mình.

Năm 1964, nhà thơ Phạm Thiên Thư xuống tóc, đi tu ở một ngôi chùa với Pháp danh là Thích Tuệ Không.. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chàng 16 tuổi và nàng cũng ngần tuổi đấy. Tình yêu vừa chớm như những bông hoa nở sớm sau sân chùa. Cứ mỗi lần, chú tiểu đánh chuông, cô bé đứng bên nhìn và tụng niệm. Trong những lời khấn nhỏ ấy, cô nguyện cầu cho 2 đứa được bên nhau mãi mãi…

Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp

Mùa xuân quen nhau, mùa hạ cùng em đi lễ… Rồi mùa thu, mùa đông, hai người vẫn yêu thương tha thiết, bốn mùa hẹn nhau trong ngôi chùa cổ, có lò hương với làn trầm nghi ngút:

Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn

Chiến tranh loạn lạc, cuối mùa đông năm ấy, cô bé chết trong lúc chạy trốn những cuộc hành quân. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người yêu trong chiếc áo quan đơn sơ và mộc mạc như chính tình yêu của họ:

Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng

Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi những bông hoa vẫn còn nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống…

Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên giòng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở

Mỗi cuộc tình đều có những kết thúc khác nhau. Có người đến đỉnh cao của hạnh phúc, tràn ngập niềm hân hoan vô bờ bến. Có kẻ rơi xuống vực sâu của bất hạnh, ôm lấy đơn côi trong im lặng và nước mắt. Cho dù âm dương cách biệt ngàn trùng, tình yêu ấy vẫn tươi đẹp, sáng lung linh và huyền diệu. Cõi người vẫn tin rằng, họ vẫn yêu thương nhau, con tim vẫn thổn thức một lời hò hẹn từ kiếp trước. Và như thế, trong ánh sáng huyền diệu của Phật Pháp, họ không còn bên nhau nữa nhưng tình yêu vẫn lóng lánh như những giọt sương còn đọng lại trên những bông hoa nở sớm sau sân chùa.

Câu chuyện hoàn toàn có thật, Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này, Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ. Sau này, Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của ông như: Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đoá tình sầu…Tất cả những ca khúc này đều nổi tiếng và được mọi người biết đến.

Sau 1975, Phạm Thiên Thư lui về ở ẩn. Từ năm 1976 đến 1981, để mưu sinh, Phạm thi sĩ mở quán hớt tóc ở Lăng Cha Cả. Giai đoạn (1981 - 1983), ông bán tạp hoá, rượu thuốc, trà đá... ở đường Lý Chính Thắng. Sau 1983, Phạm Thiên Thư nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh PHATHATA (Pháp - Thân - Tâm). Sau đó, ông được bác sĩ, nghệ sĩ Trương Thìn, Viện trưởng Viện Y học dân tộc mời về cộng tác với Viện. Trong suốt thời gian này, Phạm Thiên Thư thỉnh thoảng cho đăng báo những bài thơ ngắn. Đôi lần, giới văn nghệ sĩ lại gặp ông đến dự họp ở Hội Nhà văn TP.HCM. Thời gian sau này, Phạm Thiên Thư thực sự trở lại và hoà nhập với văn đàn khi trường ca "Đoạn Trường Vô Thanh" của ông được tái bản một cách trang trọng.

Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Mùa xuân năm Nhâm Thìn (2012), Phạm Thiên Thư đã giao lưu với khán giả Đà Nẵng trong chương trình thơ - nhạc mang tên “Động Hoa Vàng” tại Nhà hát Trưng Vương. Với sự dàn dựng công phu và góp mặt của nhiều ca sĩ trẻ, cuộc đời, thi ca và âm nhạc của người tu sĩ lãng mạn này lại tái hiện một lần nữa trong lòng người hâm mộ.




Mời bạn đọc thêm nhiều bài khác về thi sĩ Phạm Thiên Thư tại đây.

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Vàng Chanh và Lê Phổ

LĐCT sưu tầm

                             Vàng hoa vàng cả góc trời

Nếu Nguyễn Gia Trí được xem là họa sĩ bật nhất ở Việt Nam, Lê Phổ là một họa sĩ việt nam nổi tiếng nhất ở xứ ngoài.

Nếu NGT dùng sơn mài với đường nét cổ truyền dân tộc, Lê Phổ theo trường phái hậu ấn tượng hòa hợp Đông Tây, cổ điển trong tranh lụa (1934-1945) và sau cùng lãng mạn (từ 1950) với sơn dầu.

Nếu NGT dùng bột vàng kim trên tranh để hiện những đường nét thần bí dưới ánh đèn, thì Lê Phổ dùng những sắc màu vàng chanh, sắc màu vàng phản nắng để tạo tươi mát của bức họa trong ánh sáng tự nhiên.


Xem thêm, xin bấm vào đây.

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2016

Trí, Vân, Lân, Cẩn

Bốn đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam

Gửi đến từ LĐCT

Bài nầy chỉ là một góp nhặt và tổng hợp những tài liệu và tranh ảnh trên mạng để người đọc và cả người viết có một ý niệm đại cương về bốn danh họa bậc thầy của Việt Nam.
Người góp nhặt cũng xin riêng tặng những người thích tranh sơn mài, bài cuộc đời và vài tác phẩm của danh hoạ Nguyễn Gia Trí sau đây.


Nguyễn Gia Trí

·         Vàng trong tranh, vàng trong tim
·         Tôi sáng tác bằng tâm linh
·          Bí quyết của nghệ thuật là không cố ý làm gì cả. Để cái mờ, giữ cái bóng. Sơn dầu khác với sơn mài là không có cái bóng. NGT

Nguyễn Gia Trí (1908 - 1993) là một hoạ sĩ, nhà đồ hoạ, biếm hoạ Việt Nam. Ông cùng với Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn là bốn cây đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn).




Xem tiếp, xin bấm vào đây


Tô Ngọc Vân


  •      Cái đẹp trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời
  •      Tôi nghĩ rằng một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy nên tôi tin rằng chỉ những người giàu tình cảm mới có thể trở thành họa sĩ tài hoa. TNV
Tô Ngọc Vân (1906 – 1954) là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả của một số bức tranh sơn dầu tiêu biểu cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông còn có một số bút danh như Tô Tử, Ái Mỹ, TNV. Ông là một trong bốn cây đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn). Các danh họa, mỗi người một số phận, một tâm thế và cách thế dấn thân riêng, nhưng tựu trung lại, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách nghệ sĩ của mình.




Xem tiếp, xin bấm vào đây.



Nguyễn Tường Lân


Nguyễn Tường Lân (1906-1946) là một trong bộ tứ họa sĩ nổi tiếng thời kỳ đầu của nền mỹ thuật Việt Nam: "Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn". Thế hệ những họa sĩ đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương từ năm 1924. Các danh họa trong tứ trụ nầy, mỗi người một số phận, một tâm thế và cách thế dấn thân riêng, nhưng tựu trung lại, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách nghệ sĩ của mình.

Xem tiếp, xin bấm vào đây.



Trần Văn Cẩn

Trần Văn Cẩn (1910 - 1994) là một họa sĩ nổi tiếng của Việt nam , được mệnh danh là một trong bộ tứ danh họa hàng đầu của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam: Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn. Các danh họa, mỗi người một số phận, một tâm thế và cách thế dấn thân riêng, nhưng tựu trung lại, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách nghệ sĩ của mình.



Xem tiếp, xin bấm vào đây.